Trang chủ » Chùa Trấn Quốc – Một thoáng bình yên giữa lòng Hà Thành

Chùa Trấn Quốc – Một thoáng bình yên giữa lòng Hà Thành

Về với Thăng Long ngàn năm văn hiến, chúng ta không thể bỏ qua chùa Trấn Quốc – một trong những ngôi chùa cổ nhất nước ta với vẻ đẹp bình yên ngay giữa lòng Hà Thành

Nằm cuối đường Cổ Ngư (đường Thanh Niên), trên một hòn đảo phía Đông của Hồ Tây với lịch sử 1500 năm, chùa Trấn Quốc được coi là chùa có lịch sử lâu đời nhất của Thăng Long – Hà Nội và cũng là một trong những ngôi chùa cổ nhất của Việt Nam. Giữa mênh mang sóng nước hồ Tây, chùa Trấn Quốc nổi bật lên như một “viên ngọc quý” khiến du khách khi bước chân vào quên hết đi dòng chảy xô bồ của cuộc sống thường nhật, hòa mình với thiên nhiên, tìm lại những giây phút tĩnh lặng của chốn thiền môn và những giá trị lịch sử văn hóa mà cha ông đã ngàn năm xây dựng.

Một thoáng bình yên ở ngôi chùa cổ Trấn Quốc

Một thoáng bình yên ở ngôi chùa cổ Trấn Quốc

Lịch sử chùa Trấn Quốc

Theo sử sách, chùa được xây dựng từ thời Lý Nam Đế (năm 541-547) tại thôn Yên Hoa, gần bờ sông Hồng với tên gọi “Khai Quốc” (nghĩa là mở nước). Đến đời vua Lê Thái Tông (năm 1434-1442), nhà vua đổi tên chùa là chùa An Quốc. Hàng năm, nước sông Hồng lên to xói mòn làm lở bãi sông. Cho nên, năm 1615 đời vua Lê Kính Tông, dân làng Yên Phụ dời chùa vào gò đất Kim Ngưu (Cá vàng). Khoảng thế kỷ thứ XVII, chúa Trịnh cho đắp đê Cố Ngự (sau gọi chệch ra thành Cổ Ngư, nay là đường Thanh Niên) nên mới có đường nối đê với đảo Cá vàng.
Đến đời vua Lê Hy Tông niên hiệu Chính Hòa (1681-1705), chùa được đổi tên là Trấn Quốc. Bức hoành phi đề chữ “Trấn Quốc Tự” treo tại gian đại bái hiện nay được làm từ thời đó. Năm 1821, Vua Minh Mạng đến thăm chùa, ban 20 lạng bạc để tu sửa. Năm 1842, Vua Thiệu Trị đến thăm chùa, ban 1 đồng tiền vàng lớn và 200 quan tiền, cho đổi tên chùa là Trấn Bắc. Nhưng tên chùa Trấn Quốc có từ đời vua Lê Hy Tông đã được người dân quen gọi đến tận ngày nay.
Trong các năm 1624, 1628 và 1639, chùa tiếp tục được trùng tu và mở rộng. Đầu đời Nguyễn, chùa lại được trùng tu, đúc chuông, đắp tượng. Trong một chuyến vi hành đất Thăng Long vào năm 1821, vua Minh Mạng đến viếng chùa và ban 20 lạng bạc để tu sửa. Đến năm 1842, vua Thiệu Trị đến thăm chùa, ban 1 đồng tiền vàng lớn, 200 quan tiền và cho đổi tên thành chùa Trấn Bắc. Nhưng tên chùa Trấn Quốc có từ đời Vua Lê Hy Tông đã được nhân dân quen gọi cho đến ngày nay.

Kiến trúc đặc biệt chùa Trấn Quốc

Giống hầu hết những ngôi chùa khác ở Việt Nam, kết cấu và nội thất chùa Trấn Quốc có sự sắp xếp trình tự và theo nguyên tắc khắt khe của Phật giáo gồm nhiều lớp nhà với ba ngôi chính là: Tiền đường, nhà thiêu hương và thượng điện nối thành hình chữ Công (工).

Phía trước chính điện chùa Trấn Quốc có đặt một lư hương lớn

Phía trước chính điện chùa Trấn Quốc có đặt một lư hương lớn

Tiền đường hướng về phía Tây. Hai bên nhà thiêu hương và thượng điện là hai dãy hành lang. Sau thượng điện là gác chuông. Gác chuông chùa là một ngôi ba gian, mái chồng diêm, nằm trên trục sảnh đường chính.

Những tấm bia đá khắc ghi lại dấu ấn lịch sử của chùa

Những tấm bia đá khắc ghi lại dấu ấn lịch sử của chùa

Bên phải là nhà tổ và bên trái là nhà bia. Trong chùa hiện nay đang lưu giữ 14 tấm bia. Trên bia khắc năm 1815 có bài văn của tiến sĩ Phạm Quý Thích ghi lại việc tu sửa lại chùa sau một thời gian dài đổ nát. Công việc này bắt đầu vào năm 1813 và kết thúc vào năm 1815.

Bảo tháp 11 tầng cao ngút tại chùa Trấn Quốc

Bảo tháp 11 tầng cao ngút tại chùa Trấn Quốc

Phía sau chùa có nhiều mộ tháp cổ từ đời Vĩnh Hựu và Cảnh Hưng (thế kỷ XVIII). Khuôn viên chùa có Bảo tháp lục độ đài sen được xây dựng năm 1998. Bảo tháp lớn gồm 11 tầng, cao 15m. Mỗi tầng tháp có 6 ô cửa hình vòm, trong mỗi ô đặt một pho tượng Phật A Di Đà bằng đá quý. Đỉnh tháp có đài sen chín tầng (được gọi là Cửu phẩm liên hoa) cũng bằng đá quý. Bảo tháp này được dựng đối xứng với cây bồ đề lớn do Tổng thống Ấn Độ tặng khi ông đến thăm Hà Nội năm 1959. Thượng toạ Thích Thanh Nhã, Uỷ viên Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Trụ trì chùa Trấn Quốc, đã giải thích sự đối xứng đó là: “Hoa sen tượng trưng cho Phật tính chân, như tính sinh ở dưới bùn mà không bị ô uế. Bồ đề là trí giác, trí tuệ vô thượng. Tất cả đều hàm ý nghĩa bản thể và hiện tượng của các pháp”.

Cây bồ đề ở chùa Trấn Quố

Cây bồ đề ở chùa Trấn Quốc

Vẻ đẹp thanh tịnh ở chùa Trấn Quốc

Đứng nhìn từ phía xa, quần thể chùa tháp Trấn Quốc như hòa làm một với vườn cây và non nước hồ Tây. Tất cả tạo nên một chốn tu hành thanh tịnh, ưu nhã khiến lòng người cảm thấy bình yên. Dạo bước giữa không gian trong lành thoang thoảng hương nhang trầm đang phảng phất. Bạn có dịp chiêm ngưỡng cây bồ đề hơn chục năm tỏa bóng mát phủ kín khắp một khoảng chùa. Cây bồ đề này được chính tay Tổng thống Ấn Độ tặng trong một lần ghé thăm chùa Trấn Quốc vào năm 1959.

Hồ nước mênh mang thơ tình ôm lấy ngôi chùa cổ

Hồ nước mênh mang thơ tình ôm lấy ngôi chùa cổ

Thả mình vào bức tranh trầm mặc tĩnh lặng của chùa Trấn Quốc. Bạn còn có cơ hội khám phá nghệ thuật kiến trúc trên các nét chạm trổ. Nhiều phần của mái ngói lợp chùa đã bị rêu phong phủ kín. Nhưng không vì thế mà Trấn Quốc mất đi vẻ đẹp hài hòa của mình. Chính điều đó càng làm tăng thêm nét hấp dẫn của ngôi chùa linh thiêng ngàn năm.

Hãy để Paradise Travel đưa bạn tới khám phá chùa Trấn Quốc để cảm nhận được cái lắng đọng dư vị của thời gian mang hồn xưa của đất Thăng Long nghìn năm văn hiến có nét uy nghi mà vẫn rất đỗi giản dị, khiêm nhường.

Bạn có thể tham khảo thêm một số Tour du lịch chùa chiền của Paradise Travel tại đây!

Bài viết khác
Vì sao chọn chúng tôi

Chất lượng

Uy tín

Phản hồi nhanh

Giá cả cạnh tranh

Lấy khách hàng làm trọng tâm


  Hotline: 0913 001 772